 |
| Cán bộ kỹ thuật làm nhiệm vụ phân giới cắm mốc | |
Với mong muốn xây dựng một đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định tạo điều kiện để phát triển kinh tế, củng cố quan hệ hữu nghị giữa hai Đảng và nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ và biên giới của Tổ quốc; hai nước Việt Nam - Trung Quốc đã ký Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa ngày 30/12/1999. Hiệp ước không chỉ là thành quả của quá trình đàm phán biên giới, mà trước hết là văn kiện hoạch định biên giới đã kế thừa và khẳng định chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc, là thành quả của bao thế hệ người Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ biên giới của Tổ quốc. |
Biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc khởi đầu từ ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc và kết thúc tại điểm số 1 ở cửa sông Bắc Luân trên đường phân định biên giới trên Vịnh Bắc Bộ. Tổng chiều dài đường biên giới gần 1450km, trong đó có khoảng 370km biên giới theo sông suối. Từ Tây sang Đông, biên giới đi qua 7 tỉnh từ Điện Biên đến Quảng Ninh, tiếp giáp với 2 tỉnh Vân Nam và Quảng Tây của Trung Quốc.
Núi liền núi, sông liền sông…
Đối với những người làm công tác đo đạc bản đồ có vinh dự được tham gia phân giới cắm mốc (PGCM), đường biên giới trên bản đồ không đơn thuần là "đường đỏ" cần xác định trên thực địa mà trước hết đó là biên giới thiêng liêng của Tổ quốc. Người làm công tác kỹ thuật trong PGCM cũng chính là những người đi đầu trong sự nghiệp bảo vệ biên giới. Bất kỳ một sai sót nào đều phải trả giá bằng chính lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Vì vậy tham gia PGCM không chỉ là vinh dự mà còn là trách nhiệm nặng nề, một trọng trách trước lịch sử.
Đường biên giới được hoạch định trên bản đồ địa hình 1/50.000, hướng đi đường biên giới được mô tả trong Hiệp ước thành 62 đoạn. Trên biên giới, hai bên xác định 1378 vị trí mốc chính, được đánh dấu trên bản đồ và đánh số liên tục từ Tây sang Đông. Ngoài mốc chính, hai bên thống nhất cắm thêm các mốc phụ ở những vị trí cần thiết. Tùy theo vị trí cắm mốc mà phân biệt mốc giới thành ba loại: Mốc đơn cắm trên đường biên giới, mốc đôi cùng số cắm ở hai bên sông, suối biên giới và mốc ba cùng số cắm tại các điểm hợp lưu giữa sông suối biên giới và sông, suối trong nội địa của mỗi Bên. Các cửa khẩu được cắm các cột mốc cỡ lớn có gắn Quốc huy, các vị trí khác cắm mốc loại trung, những nơi khó cắm mốc và các mốc phụ thì cắm các cột mốc loại nhỏ. Tổng số cột mốc hai bên đã cắm (không kể cột mốc tại ngã ba biên giới) là 1970 cột mốc. Các mốc giới làm bằng đá granit nguyên khối, một số ít cột mốc làm bằng bê tông. Chiều dài đường biên giới lớn nhất giữa hai cột mốc kế tiếp khoảng 15km, nhỏ nhất là 0,04km.
Để triển khai công tác PGCM, Chính phủ giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) chịu trách nhiệm đảm bảo về mặt kỹ thuật và độ chính xác xác định đường biên giới trên thực địa và thể hiện trên bản đồ trong quá trình PGCM.
Nhiệm vụ mang tầm vóc lịch sử
Triển khai công tác PGCM, Bộ TN&MT đã điều động biệt phái gần một trăm cán bộ kỹ thuật chủ yếu từ Công ty Đo đạc ảnh địa hình và Công ty Đo đạc địa chính và Công trình để đào tạo, tập huấn và biên chế vào 12 nhóm PGCM. Nhiệm vụ chỉ đạo kỹ thuật được Bộ giao cho Trung tâm Biên giới và Địa giới - Cơ quan Thường trực của BCĐ PGCM.
Sau gần 7 năm PGCM trên thực địa, hai bên đã phân giới được 1438,159km trong đó có 366,072km biên giới trên sông suối (chưa kể chiều dài đoạn biên giới từ mốc 1373 đến điểm cuối của đường biên giới trên đất liền), xác định 1378 vị trí cắm mốc, cắm 1970 cột mốc các loại. Nhờ áp dụng công nghệ mới, thiết bị hiện đại nên kết quả PGCM đảm bảo độ chính xác và không để xảy ra sai sót.
Ngoài nhiệm vụ trực tiếp PGCM trên biên giới, Bộ còn trực tiếp quản lý và duy trì hoạt động của 3 trạm GPS ở Điện Biên, Hà Giang, Cao Bằng để phục vụ cho PGCM; tính toán tọa độ, độ cao các mốc giới; phối hợp với Ủy ban Biên giới Quốc gia, các Bộ, ngành và địa phương khảo sát, xây dựng phương án PGCM, giải quyết những vấn đề tồn tại trong PGCM, tham gia đàm phán và chịu trách nhiệm về kỹ thuật trong quá trình đàm phán về PGCM; phối hợp với Trung Quốc làm bản đồ và các văn kiện của Nghị định thư biên giới.
Đến nay công tác nội nghiệp về cơ bản đã hoàn thành, cuối năm 2009 sẽ hoàn tất toàn bộ để trình Chính phủ ký Nghị định thư PGCM theo đúng thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước.
Khó khăn lớn nhất đối với những người làm công tác PGCM là điều kiện địa hình phức tạp, đi lại khó khăn, đặc biệt là địa bàn tỉnh Điện Biên và Lai Châu, nơi biên giới đi theo đường phân thủy, trên đỉnh các dãy núi ở độ cao từ 2000m đến trên 3000m. Việc đi lại trên khu vực chủ yếu là đi bộ. Thời gian đi từ huyện Mường Tè qua xã Tà Tổng đến xã Sín Thầu - huyện Mường Nhé tỉnh Điện Biên mất khoảng 5 ngày, đi lại từ lán trại trên biên giới đến nơi làm việc cũng mất trung bình khoảng 4 giờ mỗi ngày. Những địa bàn khác việc đi lại có thể sử dụng ô tô nên thuận lợi hơn nhưng cũng không vì thế mà ít nguy hiểm, bởi đường đi là đường vận chuyển mốc - những con đường tạm, men theo các sườn núi cao, mùa mưa thì trơn trượt, lại thường xuyên bị sạt lở nên việc đi lại rất khó khăn, nhiều khi vẫn phải đi bộ.
Đóng góp to lớn của Bộ TN&MT trong PGCM đã được Chính phủ ghi nhận, được các Bộ, Ngành và địa phương đánh giá cao. Khi kết thúc nhiệm vụ PGCM trên biên giới Việt - Trung phần lớn kỹ thuật được chuyển sang làm nhiệm vụ PGCM trên biên giới Việt Nam - Campuchia và tăng dày tôn tạo mốc biên giới Việt Nam - Lào với mong muốn được tiếp tục cống hiến để viết tiếp những trang sử tạo lập biên giới của các thế hệ cha anh.
Ngày 30/12/1999 hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã ký Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Ngay sau khi được Quốc hội hai nước phê chuẩn, hai bên đã khẩn trương chuẩn bị để triển khai công tác phân giới cắm mốc (PGCM) trên thực địa. Tháng 9/2002 công tác PGCM trên thực địa đã được triển khai, đến ngày 31/12/2008 đã hoàn thành. Dự kiến cuối năm 2009, hai nước sẽ ký Nghị định thư PGCM, Quy chế quản lý biên giới và Quy chế quản lý cửa khẩu, hoàn tất giai đoạn PGCM.
P.V - Đỗ Viết Thi